Hiển thị các bài đăng có nhãn Thuốc và sức khỏe. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thuốc và sức khỏe. Hiển thị tất cả bài đăng
Lưu ý khi điều trị lỵ trực khuẩn
Lưu ý khi điều trị lỵ trực khuẩn
Vitamin C có làm “mát” cơ thể?
Vitamin C có làm “mát” cơ thể?
Mùa hè, thời tiết nóng nực và oi ả khiến cho nhiều người bị “nóng” trong người, biểu hiện như khô miệng, khát nước, đau đầu và rõ nhất là các biểu hiện ngoài da như rôm sảy, mụn nhọt, chốc ngứa... Nhiều người đã tìm đến vitamin C như một dược phẩm “kỳ diệu” làm “mát” cơ thể trong mùa nóng.
Có hơn 13 loại vi chất cần thiết cho cơ thể con người để tồn tại và phát triển, trong đó có vitamin C. Tuy nhiên, trong cuộc sống, cả trẻ em và người trưởng thành nếu thiếu hay dư thừa vi chất đều có thể bị bệnh. Với vitamin C, cũng không phải là trường hợp ngoại lệ.
Tác dụng của vitamin C
Vitamin C là loại vi chất rất cần thiết cho cơ thể, chúng tham gia nhiều chức năng quan trọng trong hoạt động của con người. Các loại chức năng đó được thể hiện qua các quá trình sản sinh năng lượng, tạo miễn dịch, trung hòa hoặc đào thải các chất độc (hoặc song song cả hai), tổng hợp các chất vận chuyển trung gian hệ thần kinh, hấp thu canxi, sắt. Vitamin C cũng đóng vai trò quan trọng bảo vệ thành mạch máu (động mạch và tĩnh mạch). Trong khi đó cơ thể của con người lại không thể tự sản xuất vitamin C như hầu hết các loài động vật khác. Vì vậy, khi thiếu vitamin C sẽ xuất hiện một số bệnh như chảy máu cam, vết thương chậm lành, đặc biệt khi thiếu vitamin C dễ mắc bệnh scorbut (chảy máu nướu răng, có vết bầm tím dưới da thành nốt hay thành mảng, nhất là khi có va chạm nhẹ, nặng). Nếu một trường hợp bị bệnh sốt phát ban (sốt xuất huyết) mà bản thân cơ thể người đó đang bị thiếu vitamin C thì triệu chứng xuất huyết càng nặng hơn, đa dạng hơn. Ngoài ra, cùng với các loại vitamin khác (nhóm B, E...), vitamin C đóng vai trò xúc tác các hệ thống men của cơ thể (hệ thống enzym) thúc đẩy quá trình chuyển hóa các dưỡng chất khác, đặc biệt vai trò chống ôxy hóa, góp phần chống lão hóa, giúp làn da tươi tắn mịn màng hơn. Có vai trò đó là do vitamin C có chức năng giúp sản xuất chất collagen, một protein chính của cơ thể, chiếm tới 45% thành phần cấu tạo da. Vitamin C còn có khả năng tham gia sản xuất một số chất dẫn truyền thần kinh và hormon của cơ thể, giúp hấp thụ và sử dụng các yếu tố dinh dưỡng khác (sắt, canxi...).
Lạm dụng vitamin C có gây hại?
Nhu cầu vitamin C mỗi ngày từ trẻ sơ sinh đến 3 tuổi, cơ thể của chúng cần từ 25 - 30mg, từ 4 - 18 tuổi, nhu cầu cần từ 30 - 40mg, người lớn trung bình 45mg mỗi ngày. Đối với phụ nữ mang thai, nhu cầu vitamin C mỗi ngày là 50mg, khi nuôi con bú là 70mg. Để đảm bảo số lượng vitamin C cho cơ thể hoạt động, hàng ngày cần thiết phải cung cấp đủ lượng vitamin C trong khẩu phần ăn. Nếu khẩu phần ăn vì lý do nào đó không cấp đủ lượng vitamin C thì cần tìm cách bổ sung nhưng không được dùng dư thừa. Nếu thừa vitamin C sẽ làm hấp thu thừa sắt gây hại cho cơ thể, đồng thời làm giảm sự hấp thu đồng, niken, làm cho xương chậm phát triển, dễ biến dạng và hay bị viêm kết mạc. Với phụ nữ đang mang thai, nếu thiếu hụt vitamin C sẽ có khả năng gây dị tật bẩm sinh cho thai nhi. Sản phẩm chuyển hóa trung gian của vitamin C là acid oxalic, vì vậy, khi dùng liên tục và liều cao có thể gây sỏi tiết niệu (sỏi oxalat calci). Nếu dùng liều cao vitamin C sẽ gây kích thích nhẹ, làm rối loạn giấc ngủ (ngủ ít, chập chờn, giấc ngủ không sâu, hay tỉnh giấc). Ngoài ra, vitamin C có thể gây dị ứng, nhất là loại thuốc tiêm. Thống kê cho thấy, nếu dùng liều cao (1.000mg cho mỗi cá thể, mỗi ngày) và kéo dài nhiều ngày có thể gây rối loạn tiêu hóa (nóng rát, chảy máu dạ dày hoặc tiêu chảy), gây hiện tượng thừa sắt, giảm độ bền của hồng cầu, giảm khả năng diệt khuẩn của bạch cầu. Và nếu người thiếu men G6PD mà dùng vitamin C liều cao, kéo dài có thể bị tán huyết. Ngoài ra, nếu dùng vitamin C thường xuyên, liều cao làm cho cơ thể dễ quen, khi không dùng sẽ cảm thấy mỏi mệt. Nếu dùng quá liều vitamin C sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh đục thủy tinh thể lên đến 20% và ở người lớn tuổi thì tỷ lệ này còn tăng cao hơn nếu lạm dụng hai loại vitamin C và vitamin E. Ở liều lượng 60mg/ngày, vitamin C có tác dụng phòng bệnh ung thư và chống ôxy hóa, nhưng khi dùng tới 500mg/ngày, vitamin C sẽ gây tổn hại về gen và dẫn tới các căn bệnh ung thư, thấp khớp và xơ vữa động mạch..
Nên dùng vitamin C thế nào?
Việc dùng vitamin C cần tuân theo tư vấn và hướng dẫn của bác sĩ. Không nên coi vitamin C như một loại thuốc bổ, dùng không giới hạn (đặc biệt là trẻ em, thai phụ). Cũng như không nên coi vitamin C như một thứ thuốc làm “mát” trong mùa nắng nóng. Mà mỗi gia đình cần cải thiện chất lượng bữa ăn hằng ngày, chú ý đến bữa ăn của bà mẹ đang mang thai, nuôi con bú và trẻ em. Với người bệnh tăng huyết áp không được dùng vitamin C dạng sủi vì loại này có natri clorid sẽ làm tăng vọt huyết áp sau khi uống. Các trường hợp đang bị sỏi tiết niệu hoặc tiền sử mắc bệnh sỏi tiết niệu cũng không nên dùng hoặc nếu phải dùng thì nên dè dặt và phải có ý kiến của bác sĩ. Vitamin C có thể gây dị ứng nên cần hạn chế đến mức tối đa khi dùng dạng tiêm.
Theo nguồn sức khỏe đời sống
Sỏi thận do C sủi
Sỏi thận do C sủi
Chuyện xảy ra cách đây đã mấy năm rồi, bắt đầu từ việc tự nhiên chị Hồng thấy chân răng mình bị chảy máu, nhất là mỗi khi đánh răng, rồi lợi đỏ lên... Chị đem chuyện này kể với một số chị em thân thiết xem có cách nào khắc phục.
- Có thể chị bị thiếu vitamin C rồi. Chị nên bổ sung đợt vitamin C vào. Chị Lan, bạn thân của chị Hồng hiến kế.
- Ừ, chị cũng nghe thấy bảo thiếu vitamin C thì hay bị chảy máu chân răng. Hay mình thử bổ sung một đợt xem sao nhỉ.
- Vâng, chị cứ thử đi, chắc chắc sẽ cải thiện. Hơn nữa mùa hè này uống vitamin C còn đẹp da nữa đấy.
Thấy một mũi tên trúng hai đích, vừa chữa được bệnh, vừa đẹp da thì ai chả muốn, việc dùng thuốc này lại đơn giản với chị, chỉ cần mua loại thuốc sủi về pha vào nước, uống lại ngon nữa nên chị Hồng càng thêm ý chí để thực hiện chiến lược này.
Chị mua về nhà liền 5 tuýp, ngày 1 viên pha vào cốc nước to, uống đều đặn. Uống rồi thành quen nên ngày nào không được cốc C sủi là chị thấy không yên tâm. Sau một thời gian răng lợi chị không còn chảy máu nữa, nhưng chị vẫn tiếp tục uống, vì đằng nào thì hàng ngày chị cũng phải bổ sung nước cho cơ thể nữa.
Cho tới một ngày thi thoảng chị thấy mình hay bị đau bụng, lúc này đau nhẹ rồi thôi nên chị không để ý, nhưng rồi cơn đau bụng ngày một nhiều lên, đau từ lưng đau xuyên ra phía trước, mức độ đau cũng tăng lên. Cơn đau thường xảy ra sau khi chị làm một việc gì đó phải gắng sức một chút. Chị cũng cố gắng chịu đựng. Rồi chị đi tiểu thì thấy nước tiểu của mình đục như nước vo gạo. Lúc này chị thật sự lo lắng không biết mình bị bệnh gì. Tới bệnh viện xét nghiệm, siêu âm thì kết quả xét nghiệm cho biết viên sỏi thận trong cơ thể chị đã to 1,8 cm.
Trong quá trình điều trị, chị mới có dịp chia sẻ cùng bác sĩ. Trong câu chuyện tìm hiểu về nguyên nhân bệnh chị tiết lộ cho bác sĩ biết đã dùng liên tục vitamin C gần 2 năm nay. Bác sĩ cho biết:
- Viên sỏi kia là kết quả của việc dùng vitamin C liên tục, dài ngày. Vitamin C là một thuốc dùng rất tốt, dùng để phòng và điều trị bệnh Scorbut, các bệnh chảy máu do thiếu vitamin C, tăng sức đề kháng của cơ thể khi mắc bệnh nhiễm khuẩn. Xong nếu dùng đúng sẽ có hiệu quả tốt còn nếu dùng liên tục dài ngày, liều cao sẽ có nguy cơ dẫn đến sỏi thận mà chị trường hợp của chị là điển hình.
Biết được nguyên nhân gây sỏi là do chị lạm dụng thuốc nên chị Hồng đã rất thấm thía. Bài học này đến nay chị vẫn còn nhớ như in để chia sẻ với mọi người.
Theo nguồn Sức khỏe đời sống
Cách trị tê chân tay ở bệnh nhân đái tháo đường
Cách trị tê chân tay ở bệnh nhân đái tháo đường
Biến chứng thần kinh khá phổ biến ở các bệnh nhân đái tháo đường, nhất là các bệnh nhân kiểm soát đường máu không tốt. Tính chung thì khoảng 60-70% bệnh nhân đái tháo đường có biến chứng này, chủ yếu là biến chứng thần kinh ngoại biên (bao gồm dây thần kinh vận động ở tay - chân). Đáng chú ý là ngay tại thời điểm được phát hiện đái tháo đường đã có gần 10% số bệnh nhân có biến chứng thần kinh.
Biến chứng thần kinh ngoại biên thường xuất hiện sớm và dễ nhận biết với các biểu hiện như đau cơ, cảm giác tê bì, kiến bò, kim châm; nóng bỏng hay tê lạnh, thậm chí rát bỏng ở đầu ngón tay, ngón chân.
Tê chân tay - biểu hiện của biến chứng thần kinh ở bệnh nhân đái tháo đường
Biến chứng thần kinh ngoại biên: Thường xuất hiện sớm, Tổn thương chủ yếu ở chi trên và chi dưới, bao gồm các triệu chứng như: cảm giác tê bì, kiến bò, kim châm, đau cơ, nóng bỏng hay tê lạnh, thậm chí rát bỏng ở đầu ngón tay, ngón chân. Đau hay tê tự phát vào ban đêm, không có chu kỳ, không khu trú. Đặc biệt là đau cả lúc nghỉ ngơi, nhưng lại giảm đi khi vận động. Đây là dấu hiệu phân biệt với tổn thương các mạch máu ở chi dưới trong bệnh đái tháo đường (viêm động mạch chi dưới).
Khi tổn thương thần kinh ngoại biên nặng do đái tháo đường, bệnh nhân có thể bị teo cơ, liệt nhẹ. Khi đó, cảm giác ở bàn tay bàn chân giảm, mức độ sừng hoá da tăng lên, có thể xuất hiện các ổ loét da giữa các vùng sừng hoá mà người bệnh không biết.
Ngoài ra, còn hai nhóm tổn thương do biến chứng thần kinh ở bệnh nhân đái tháo đường là:
Biến chứng thần kinh vận động: thường ít gặp hơn. Trong biến chứng này, các dây thần kinh bị viêm với các biểu hiện: sụp mi mắt (tổn thương dây thần kinh số 3), lác ngoài (dây thần kinh số 4), liệt mặt (dây thần kinh số 7), mất vận động nhìn ngoài (dây số 6), điếc (dây số 8).
Biến chứng thần kinh thực vật: thường kết hợp với các biến chứng thần kinh ngoại biên, và được coi là rối loạn thần kinh nội tạng. Có thể gặp như: nhịp tim nhanh khi nghỉ, giảm sự tiết mồ hôi, giảm sự co giãn của đồng tử, giảm trương lực cơ hệ tiêu hoá (buồn nôn, nôn hay đầy bụng sau khi ăn,…), giảm co bóp cơ bàng quang (gây ứ đọng nước tiểu), liệt dương ở nam giới.
Nguyên nhân gây biến chứng thần kinh ở các bệnh nhân đái tháo đường
Cơ chế gây tổn thương thần kinh ở các bênh nhân đái tháo đường chưa được biết rõ, có thể do tình trạng đường máu cao kéo dài sẽ gây tổn thương (tắc, hẹp) các mạch máu nhỏ nuôi dây thần kinh. Mặt khác đường máu cao còn sinh ra các sản phẩm chuyển hóa gây độc cho dây thần kinh.
Hậu quả là các dây thần kinh bị thoái hóa, tốc độ dẫn truyền các tín hiệu bị chậm lại, có khi mất hẳn. Hầu hết những tổn thương này có tính chất thoái hóa vĩnh viễn, và khi có trên 50% số sợi trục bị tổn thương thì khả năng phục hồi là không thể.
Ngoài việc không kiểm soát tốt đường máu, có một số yếu tố làm tăng nguy cơ mắc biến chứng thần kinh ở bênh nhân đái tháo đường như: thời gian bị đái tháo đường lâu; tuổi cao (tỷ lệ bị biến chứng thần kinh là 5% ở những bệnh nhân 25-29 tuổi, nhưng tăng cao tới 44,2% ở những người 70-79 tuổi).
Điều trị và ngăn ngừa biến chứng thần kinh ở bệnh nhân đái tháo đường
Nếu đang mắc các bệnh liên quan đến rối loạn chuyển hóa như đái tháo đường thì tê chân tay chính là biến chứng thường gặp và nguy hiểm của bệnh, cần điều trị sớm theo hướng dẫn sau:
Theo dõi và kiểm soát đường máu ở giới hạn cho phép qua chế độ ăn uống cân bằng, khoa học và dùng thuốc kiểm soát đường huyết theo chỉ dẫn của bác sĩ.
Điều trị sớm các biến chứng thần kinh bằng các sản phẩm có tác dụng điều trị viêm đau dây thần kinh và các rối loạn chức năng thần kinh, điều trị tê chân tay, và ngăn ngừa biến chứng thần kinh nặng thêm. Vindermen là dược phẩm có tác dụng điều trị này và nhanh chóng giúp người bệnh hết triệu chứng đau hoặc tê chân tay, ngăn biến chứng nặng thêm và người bệnh nhanh chóng khỏe mạnh, hoạt bát.
Bên cạnh đó, tập luyện thể thao đều đặn, chăm sóc bàn tay, bàn chân hàng ngày (giữ sạch, rửa bằng nước ấm, tránh trầy xước,…) và nên khám sức khỏe định kỳ hàng năm để kiểm soát bệnh và phát hiện các biến chứng sớm nhất.
Theo nguồn sức khỏe đời sống
Ai phải dùng insulin để trị bệnh?
Ai phải dùng insulin để trị bệnh?
Hiện nay insulin vẫn là một “vũ khí” chiến lược trong điều trị đái tháo đường (ĐTĐ). Tuy nhiên, không chỉ bệnh nhân mà ngay cả bác sĩ vẫn còn trù trừ khi dùng thuốc này, mặc cho chỉ định dùng thuốc là cần thiết.
Insulin
Insulin là một hoóc-môn do tế bào tụy tiết ra, có vai trò quan trọng trong việc kiểm soát chuyển hóa các chất đường, đạm và mỡ, không có insulin tính mạng cơ thể sẽ bị đe dọa.
Tác dụng quan trọng nhất của insulin là làm giảm đường trong máu. Insulin được tụy tiết ra liên tục 24 giờ trong ngày, và còn được tiết ra theo nhu cầu từng lúc của cơ thể. Sự tăng đường máu sẽ kích thích tụy sản xuất insulin, nhất là sau các bữa ăn. Khi đường máu giảm, hoặc khi đói thì tụy sẽ giảm tiết insulin. Ngoài ra, tụy luôn tiết một lượng insulin tối thiểu để duy trì chuyển hóa cơ bản gọi là insulin nền.
Ra đời vào năm 1922, thuốc insulin đã tạo nên một cuộc cách mạng trong điều trị ĐTĐ và hiện nay nó vẫn đóng vai trò chủ lực trong các phác đồ điều trị ĐTĐ týp 1 và týp 2. Dùng thuốc insulin để thay thế quá trình bài tiết insulin sinh lý của tuyến tụy nhằm kiểm soát nồng độ đường huyết, nhưng cần hạn chế tối đa nguy cơ xảy ra cơn hạ đường huyết.
Hiện nay, trên thị trường có nhiều dạng insulin khác nhau về đặc tính dược động học và thời gian tác dụng. Insulin là một protein nên khi uống vào đường tiêu hóa sẽ bị phân hủy, vì vậy phải dùng theo đường tiêm. Các loại insulin uống và xịt qua đường hô hấp vẫn còn đang trong giai đoạn thử nghiệm.
Chỉ định dùng insulin
1. Bắt buộc với ĐTĐ týp 1, ĐTĐ thai kỳ.
2. ĐTĐ týp 2 khi có:
- Mất bù do stress, nhiễm trùng, vết thương cấp, tăng đường huyết với tăng xê-tôn máu cấp nặng. Sụt cân không kiểm soát được.
- Can thiệp ngoại khoa.
- Có thai.
- Suy gan, thận.
- Dị ứng với các thuốc hạ đường huyết uống.
- Chỉ định tạm thời ngay khi có đường huyết tăng cao >250 -300 mg/dl (14 - 6,5 mmol/l), HbA1c > 11%.
3. ĐTĐ có hôn mê toan xê-tôn hoặc tăng áp lực thẩm thấu.
4. ĐTĐ do bệnh lý tuỵ: viêm tuỵ mạn, sau phẫu thuật cắt tuỵ…
5. Trong một số trường hợp, nhu cầu insulin của bệnh nhân tăng cao: do dùng thuốc gây tăng đường huyết như corticoid.
Phân loại insulin
Dạng tác dụng rất nhanh (apart, lispro) khởi phát tác dụng 10 - 20 phút khởi phát tác dụng 2 - 5 giờ. Tương tự loại tác dụng nhanh (regular), 15 - 30 phút, 4 - 8 giờ; bán chậm (lente, NPH) 1- 2 giờ, 10 - 16 giờ; tác dụng chậm (glargin, detemir), 1,5 giờ,
22 - 24 giờ; hỗn hợp bán chậm/rất nhanh, 15 phút, 12 giờ; hỗn hợp bán chậm/nhanh, 30 phút, 12 giờ.
22 - 24 giờ; hỗn hợp bán chậm/rất nhanh, 15 phút, 12 giờ; hỗn hợp bán chậm/nhanh, 30 phút, 12 giờ.
Liều tiêm insulin
Do bác sĩ chỉ định, liều tham khảo:
- Liều insulin cần thiết ở những bệnh nhân ĐTĐ týp 1 từ 0,5 - 1,0 UI/kg cân nặng. Liều khởi đầu thường từ 0,4 - 0,5 UI/kg/ngày. Liều thông thường 0,6 UI/kg, tiêm dưới da 1-2 lần trong ngày. Sau đó, căn cứ trên kết quả đường huyết mà tăng hoặc giảm liều insulin từ 1 - 2 UI/lần.
|
Lời khuyên của thầy thuốc
Có hai loại ĐTĐ chính, ĐTĐ týp 1 xảy ra do tụy giảm tuyệt đối tiết insulin, và ĐTĐ týp 2 là do tụy giảm tương đối tiết insulin và/hoặc đề kháng insulin ở mô ngoại vi. Trong điều trị, bệnh nhân ĐTĐ týp 1 cần phải dùng insulin suốt đời; còn bệnh nhân ĐTĐ týp 2 có thể dùng thuốc viên, nhưng đến một lúc nào đó thì họ cũng cần đến insulin để kiểm soát bệnh.
|
- Liều insulin ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2: khởi đầu từ 0,2 UI/kg/ngày. Thường 0,3 - 0,6 UI/kg/ngày.
- Liều insulin nền 0,1 - 0,2 UI/kg.
Các phác đồ điều trị
Có nhiều phác đồ điều trị insulin khác nhau.
- Đối với ĐTĐ týp 1 thường sử dụng phác đồ tiêm 2 - 4 mũi/ngày.
- Đối với ĐTĐ týp 2, ngoài phác đồ như ĐTĐ týp 1 có thể sử dụng thêm phác đồ 1 mũi insulin (lente, NPH, detemir, hoặc glargin) kết hợp với thuốc viên.
- ĐTĐ thai kỳ thường sử dụng phác đồ 1- 4 mũi/ngày tùy theo nồng độ đường huyết của bệnh nhân.
Tác dụng không mong muốn
Nhìn chung insulin rất ít độc nhưng cũng có thể gặp các tác dụng không mong muốn sau:
- Hạ đường huyết: thường gặp khi tiêm insulin quá liều, hoặc tiêm insulin xong nhưng ăn muộn hoặc bỏ bữa ăn.
- Dị ứng: có thể xuất hiện sau khi tiêm lần đầu hoặc sau nhiều lần tiêm insulin, tỉ lệ dị ứng nói chung thấp.
Phản ứng tại chỗ tiêm. Ngứa, đau, cứng hoặc u mỡ vùng tiêm. Để tránh tác dụng phụ này, nên thay đổi vị trí tiêm thường xuyên và các mũi tiêm cách nhau 3 - 4cm (hoặc 2 - 3 khoát ngón tay).
Bảo quản insulin
Insulin được bảo quản ở nhiệt độ 4 - 8oC, vì vậy nên cất insulin trong ngăn mát (ngăn chứa trái cây) của tủ lạnh.
Theo suckhoedoisong.vn
Các nhóm thuốc điều trị nhồi máu cơ tim
Các nhóm thuốc điều trị nhồi máu cơ tim
Nhồi máu cơ tim (NMCT) là tình trạng hoại tử một vùng cơ tim do thiếu máu cục bộ cơ tim kéo dài, thường gây ra bởi sự hình thành cục máu đông trong lòng động mạch vành (ĐMV) gây tắc và làm hoại tử vùng cơ tim mà ĐMV đó nuôi dưỡng. Điều trị NMCT gồm nhiều biện pháp, tuy nhiên, dù áp dụng biện pháp nào cũng không thể thiếu được các thuốc. Có thể chia các thuốc điều trị NMCT thành các nhóm sau:
Các thuốc ức chế ngưng tập tiểu cầu
Acid salicylic (biệt dược aspirin): Nên sử dụng aspirin càng sớm càng tốt, tốt nhất là ở phòng cấp cứu ngay khi bệnh nhân được chẩn đoán NMCT cấp. Dùng đường tĩnh mạch hoặc đường uống với liều cao có thể tạo ra hiệu quả điều trị nhanh chóng. Sau đó nên tiếp tục điều trị kéo dài (trừ khi có chống chỉ định).
Thienopyridine: Các thuốc ức chế tiểu cầu bao gồm ticlopidine clopidogrel có tác dụng ngăn cản quá trình hoạt hóa tiểu cầu, ngăn ngừa hình thành huyết khối. Thuốc được chỉ định dùng càng sớm càng tốt, ngay khi có các cơn đau thắt ngực. Đây là thuốc bắt buộc dùng trước và sau can thiệp nong động mạch vành và đặt giá đỡ (stent).
Thuốc ức chế thụ thể glycoprotein IIb/IIIa của tiểu cầu
Các thuốc ức chế thụ thể glycoprotein IIb/IIIa của tiểu cầu như (abciximab, eptifibatide, tirofibran…) có tác dụng ức chế quá trình ngưng tập tiểu cầu. Do vậy, nhóm thuốc này rất lý tưởng để điều trị NMCT cấp. Tuy nhiên, nhược điểm lớn nhất của thuốc này là giá thành còn rất đắt.
Các thuốc chống đông
Heparin thường: Trong lâm sàng, heparin được dùng để phòng quá trình lan rộng của huyết khối, ngăn ngừa xuất hiện huyết khối mới, huyết khối đại tuần hoàn và phòng tắc lại ĐMV. Heparin cũng ngăn cản hình thành cục máu đông bền vững do ức chế các yếu tố làm ổn định fibrin. Khi sử dụng heparin, bệnh nhân cần phải được theo dõi chặt chẽ các chỉ số đông máu để điều chỉnh liều thuốc phù hợp, nếu quá liều có thể gây biến chứng chảy máu.
Heparin trọng lượng phân tử thấp: Heparin trọng lượng phân tử thấp có tác dụng gần giống như heparin thường, nhưng có ưu điểm là không cần phải thường xuyên xét nghiệm để đánh giá tác dụng chống đông. Do vậy, việc sử dụng đơn giản hơn, tác dụng kéo dài hơn. Ngoài ra, thuốc ít gây tai biến giảm tiểu cầu hơn so với heparin thường. Các thuốc hay dùng là lovenox, fraxiparin.
Nhóm thuốc nitrate
Tác dụng chủ yếu của các thuốc nhóm này là gây giãn tĩnh mạch ngoại vi dẫn đến giảm lượng máu về tim kết hợp với giãn các tiểu động mạch dẫn đến giảm sức cản ngoại vi, làm giảm tiêu thụ ôxy của cơ tim. Đối với động mạch vành, thuốc cũng có tác dụng giãn động mạch do vậy chống được hiện tượng co thắt mạch vành. Thuốc còn có tác dụng làm tăng cường tuần hoàn bàng hệ tới các khu vực cơ tim bị thiếu máu. Khi bị NMCT, ngay khi xuất hiện đau thắt ngực, cần dùng ngay loại xịt hoặc ngậm dưới lưỡi, tại bệnh viện, bệnh nhân sẽ được sử dụng nitroglycerin dạng tiêm tĩnh mạch bằng bơm tiêm điện với liều khởi đầu thấp và tăng dần tùy theo đáp ứng của bệnh nhân.
Thuốc chẹn thụ thể bêta giao cảm
Chẹn thụ thể bêta giao cảm là nhóm thuốc đối kháng cạnh tranh với các chất giao cảm, làm giảm tần số tim, giảm sức co bóp của cơ tim, do đó làm giảm nhu cầu tiêu thụ ôxy của cơ tim và góp phần làm giảm sự lan rộng vùng hoại tử cơ tim. Ngoài ra, các thuốc này còn có tác dụng phòng và làm giảm tai biến loạn nhịp ngoại tâm thu thất. Nhóm thuốc này không được dùng trong các trường hợp: nhịp chậm, tụt huyết áp, blốc nhĩ thất mức độ cao, hen phế quản, suy tim hoặc choáng tim.
Thuốc điều chỉnh rối loạn lipid máu
Chủ yếu là các thuốc thuộc nhóm statin, các thuốc này không những làm giảm các biến cố tim mạch ở bệnh nhân có rối loạn lipid máu mà còn giảm các biến cố này ở cả bệnh nhân không có rối loạn lipid máu. Do vậy, ngay cả khi các xét nghiệm về mỡ máu cho giá trị bình thường thì việc sử dụng thuốc cũng là hết sức cần thiết.
Thuốc chẹn (ức chế) kênh canxi
Các thuốc này được chia làm 2 nhóm có chống chỉ định khác nhau; đó là nhóm dihydropyridin và nhóm non dihydropyridin. Nhóm non dihydropiridin có tác dụng gây giảm sức co bóp của tim, chậm nhịp tim, do vậy cần tôn trọng chặt chẽ các chống chỉ định của nhóm thuốc này.
Thuốc ức chế men chuyển
Các thuốc nhóm này không những có tác dụng hạ huyết áp mà còn có tác dụng chống rối loạn chức năng thất trái, chức năng nội mạc mạch máu ở bệnh nhân sau NMCT do vậy làm giảm được các biến cố suy tim, NMCT tái phát sau nhồi máu. Do vậy, thuốc được chỉ định sớm ngay khi bị NMCT. Nhược điểm hay gặp nhất của các thuốc nhóm này là triệu chứng ho. Nếu ho ít mà bệnh nhân có thể chịu đựng được thì vẫn nên cho bệnh nhân dùng thuốc. Thuốc nên được dùng bắt đầu bằng liều thấp sau đó tăng dần liều tùy theo đáp ứng của từng bệnh nhân.
Các thuốc tiêu sợi huyết (tiêu cục huyết khối)
Như trên đã nói, các thuốc chống đông chỉ có tác dụng ngăn chặn không cho cục huyết khối hình thành hoặc lan rộng. Thuốc không có tác dụng trực tiếp trên cục huyết khối do vậy chỉ là thuốc dự phòng. Các thuốc tiêu cục huyết khối có tác dụng điều trị vì nó làm mất đi sự cản trở cơ học, làm tái lưu thông lại ĐMV để cung cấp máu trở lại cho vùng cơ tim bị thiếu máu trước đó. Muốn đạt hiệu quả tối ưu, phải dùng thuốc tiêu sợi huyết càng sớm càng tốt (không dùng thuốc nếu NMCT đã quá 12 giờ) dựa trên những tiêu chuẩn về điện tim mà không cần đợi các kết quả về men tim.
Hiệu quả của điều trị phụ thuộc vào thời gian từ khi khởi phát đau ngực đến khi được dùng thuốc tiêu sợi huyết. Chính vì vậy phải dùng thuốc tiêu sợi huyết càng sớm càng tốt. Tuy nhiên, mặc dù dùng sớm và đúng chỉ định thì thuốc cũng chỉ làm mở thông được khoảng 1/2 các động mạch thủ phạm gây NMCT. Do vậy, ngày nay việc điều trị sớm NMCT cấp chủ yếu dựa vào can thiệp nong động mạch vành và đặt giá đỡ kết hợp với điều trị bằng các nhóm thuốc trên, phương pháp này cho kết quả tốt hơn cả về tỷ lệ sống cũng như hạn chế được các biến chứng lâu dài khác của NMCT.
Theo suckhoedoisong.vn
Paracetamol không lành như ta tưởng
Bé Giang 6 tuổi đang khỏe mạnh bỗng dưng lăn ra ốm, người nóng hầm hập. Chị Loan (mẹ của bé Giang) cặp nhiệt độ cho con, thấy con sốt tới hơn 39 độ C nên chị đã vội vàng chạy ra hiệu thuốc mua ngay vỉ paracetamol về cho con uống. Sau khi uống thuốc được hơn 1 ngày thì bé Giang lại có biểu hiện đỏ môi và sau đó thì nổi nhiều bọng nước ở tay và chân. Tiếp theo, da bé bị lở loét, chảy nước như bị bỏng vôi. Không biết con bị bệnh gì chị Loan đưa con đi bệnh viện. Tại đây các bác sĩ đã chẩn đoán bé Giang bị dị ứng thuốc hạ sốt paracetamol (do cơ địa) hay còn gọi là hội chứng Steven Johnson. Bác sĩ cho biết:
- Steven Johnson là hội chứng cấp tính trên da và niêm mạc do thuốc. Các triệu chứng của hội chứng này sẽ xuất hiện vài ngày hay vài tuần sau khi uống thuốc với các biểu hiện như sốt cao, mệt mỏi, khắp người nổi ban đỏ, bọng nước hoặc bị lột da. Rất nhiều loại thuốc có thể gây nên hội chứng này như kháng sinh (penicillin, ampicillin, streptomycin…), thuốc giảm đau, hạ sốt, chống viêm, thuốc chống lao…
- Thưa bác sĩ, em nghe người ta nói thuốc hạ sốt paracetamol là an toàn mà, nên trong nhà có ai bị sốt là em toàn mua thuốc này về dùng thôi.
- Không thuốc nào là an toàn tuyệt đối. Paracetamol là thuốc được dùng rộng rãi trong điều trị các chứng đau và sốt từ nhẹ đến vừa. Ở liều bình thường, paracetamol dung nạp tốt, ít tác động đến hệ tim mạch và hô hấp, không gây kích ứng, xước hoặc chảy máu dạ dày như khi dùng aspirin (một thuốc kháng viêm không steroid cũng được dùng để hạ sốt, giảm đau). Vì thế, so với thuốc aspirin thì paracetamol có vẻ “lành” hơn thôi. Tuy nhiên, paracetamol có thể gây độc cho gan, làm tổn thương gan và dẫn tới tử vong khi dùng quá liều. Đấy là chưa kể đến ngay cả khi dùng đúng liều thuốc vẫn có thể gây ra các tác dụng không mong muốn như ban da (thường là ban đỏ hoặc mày đay), nhưng đôi khi nặng hơn và có thể kèm theo sốt do thuốc và thương tổn niêm mạc, thậm chí là phản ứng dị ứng nặng như trường hợp của con chị đây. Tuy nhiên phản ứng dị ứng nặng này sẽ hay gặp hơn ở những người có cơ địa dễ mẫn cảm với thuốc.
- Vậy đối với hội chứng Steven Johnson này có phòng tránh được không?
- Hội chứng Steven Johnson rất khó phòng tránh. Với những người có tiền sử dị ứng (như thuốc, mỹ phẩm, thức ăn), người mắc bệnh mề đay, hen phế quản… cần phải cẩn trọng khi sử dụng thuốc. Đặc biệt, khi đi khám cần phải thông báo tiền sử dị ứng cho bác sĩ biết và phải sử dụng thuốc theo đơn bác sĩ. Trong quá trình dùng thuốc nếu có các triệu chứng bất thường như rối loạn tiêu hóa, ban đỏ, sẩn ngứa, khó thở… cần thông báo cho bác sĩ biết để được xử trí kịp thời, tránh trường hợp đáng tiếc xảy ra.
Dùng thuốc tránh thai khẩn cấp thế nào?
Dùng thuốc tránh thai khẩn cấp thế nào?
Thuốc tránh thai khẩn cấp đang được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, nhất là thời gian gần đây, nhiều trường hợp gây bàn cãi trong dư luận bởi “đã uống thuốc vẫn có thai”. Vậy thuốc tránh thai khẩn cấp sử dụng như thế nào để có hiệu quả?
Sử dụng trong trường hợp nào?
Viên thuốc tránh thai khẩn cấp là một biện pháp tránh thai cho phụ nữ sau khi quan hệ tình dục không được bảo vệ. Thuốc được chỉ định dùng khi hai người nam nữ mới có quan hệ tình dục với nhau không sử dụng biện pháp tránh thai hoặc có sử dụng bao cao su nhưng bao cao su bị thủng hay bị rách. Một số trường hợp khác cũng có thể sử dụng khi người phụ nữ đang sử dụng thuốc uống ngừa thai mà quên uống từ 2 ngày trở lên, đang sử dụng thuốc tiêm tránh thai mà thời gian tiêm bị chậm kỳ quy định. Ngoài ra, viên thuốc tránh thai khẩn cấp cũng được dùng khi đối tượng nữ bị cưỡng bức quan hệ tình dục.
Thuốc tránh thai khẩn cấp hoạt động như thế nào?
Loại thuốc tránh thai này cũng tương tự như thuốc viên tránh thai hàng ngày, nó có chứa hoóc-môn nữ progestin hormone. Tuy nhiên, hàm lượng kích thích tố progestin trong thuốc tránh thai khẩn cấp cao hơn nên ngay lập tức nó có tác dụng ngăn cản sự rụng trứng, tránh dẫn tới thụ thai.
Thuốc tránh thai khẩn cấp có an toàn không?
Ngày nay, biện pháp tránh thai khẩn cấp được coi là rất phổ biến và cũng khá an toàn nếu sử dụng theo đúng quy định và chỉ dẫn của thuốc cũng như của bác sĩ. Mặc dù có những bất lợi nhỏ khi dùng thuốc nhưng hầu như không có biến chứng nào trở nên nghiêm trọng.
Một số tác dụng phụ có thể gặp khi uống thuốc tránh thai khẩn cấp:
- Buồn nôn: tác dụng phụ phổ biến nhất.
- Chảy máu âm đạo bất thường.
- Đau dạ dày.
- Đau đầu.
- Chóng mặt.
- Đau ngực.
- Kinh nguyệt thất thường hoặc rong kinh. Trong trường hợp, chậm kinh kéo dài, bạn nên đi khám hoặc dùng que thử để loại bỏ khả năng có thai.
Dùng thế nào để đạt hiệu quả?
Loại viên thuốc chuyên dụng cho tránh thai khẩn cấp là loại thuốc có progestine liều cao, nó có tác dụng ngăn cản hoặc làm chậm quá trình rụng trứng, có thể ngăn chặn việc làm tổ của trứng, làm biến đổi lớp nội mạc tử cung và có khả năng ngăn ngừa sự thụ thai. Tác dụng của thuốc cũng làm cho dịch nhầy ở cổ tử cung bị đặc lại và dày lên để ngăn tinh trùng xâm nhập vào tử cung hoặc gây cản trở cho đường đi của tinh trùng hoặc trứng trong vòi trứng của tử cung.
Viên thuốc tránh thai khẩn cấp được uống càng sớm càng tốt, tốt nhất là trong vòng 72 giờ (3 ngày) sau khi có quan hệ tình dục không được bảo vệ. Đến ngày thứ 5 sau khi có quan hệ tình dục vẫn có thể sử dụng viên thuốc tránh thai khẩn cấp nhưng theo nguyên tắc nếu uống càng sớm thì hiệu lực tác dụng của thuốc sẽ càng cao và có thể làm giảm nguy cơ mang thai đến 85%.
Trên thị trường hiện nay, có hai loại viên thuốc tránh thai khẩn cấp thường được sử dụng là loại 2 viên và loại 1 viên. Loại 2 viên có chứa Levonorgestrel 0,75mg, có thể uống cùng một lúc 2 viên hoặc uống viên thứ hai sau viên thứ nhất 12 giờ. Loại 1 viên có chứa Levonorgestrel 1,5mg uống một lần. Sử dụng viên thuốc tránh thai khẩn cấp đôi khi có một số phản ứng phụ xảy ra như: gây buồn nôn, nôn mửa; một vài trường hợp bị đau đầu, chóng mặt, đau bụng, mệt mỏi, căng vú... Các tác dụng phụ này sẽ tự biến mất đi sau một vài ngày mà không cần can thiệp biện pháp y tế. Ngoài ra, viên thuốc tránh thai khẩn cấp cũng có thể gây ra chảy máu bất thường cho tới tận chu kỳ kinh nguyệt sau và kinh nguyệt có thể có sớm hoặc chậm.
Các bác sĩ cũng khuyến cáo, không nên sử dụng quá 2 liều viên tránh thai khẩn cấp trong vòng một tháng. Trong một số trường hợp nếu không có kinh nguyệt trở lại trong vòng 4 tuần sau khi sử dụng viên thuốc tránh thai khẩn cấp thì có khả năng đã mang thai, vì vậy phải đến ngay cơ sở y tế nhất để được tư vấn kịp thời.
Theo nguồn suckhoedoisong.vn
Nhiễm herpes sinh dục nữ và dùng thuốc
Nhiễm herpes sinh dục nữ và dùng thuốc
Herpes simples virus (HSV) gây ra herpes sinh dục nữ cũng như gây ra các bệnh viêm não, loét giác mạc mắt cho trẻ bị lây nhiễm HSV từ mẹ. Do ngại độc, ngại không an toàn với thai, nhiều người bệnh đã không dùng thuốc sớm, thiếu tích cực và kiên nhẫn nên bệnh hay tái phát, lây nhiễm rộng trong cộng đồng và cho trẻ sơ sinh.
Tình trạng nhiễm HSV
HSV có 2 loại: HSV1 lây truyền qua miệng, qua nước bọt. HSV2 lây truyền qua sinh hoạt tình dục. Trước đây, HSV2 được cho là tác nhân chủ yếu gây herpes sinh dục. Ngày nay, các trường hợp nhiễm HSV1 sinh dục ngày một gia tăng, vượt quá 50% trong dân số nữ nên HSV1 cũng được xem là tác nhân gây ra loét sinh dục tái phát. Khoảng 70% số người lành nhiễm HSV nhưng không có triệu chứng. Khi sức khỏe giảm sút, có cơ hội thuận lợi, các HSV có sẵn trong cơ thể sẽ gây ra mụn rộp ở bộ phận sinh dục và các bộ phận khác. Có 40% số người nhiễm HSV lần đầu sẽ tái phát thành viêm loét sinh dục trong năm đầu (Benedetti J-1994).
Tỉ lệ nhiễm HSV ở nữ rất cao không chỉ ở các nước đang phát triển mà cả ở các nước phát triển. Tại Việt Nam, theo điều tra của Bệnh viện Từ Dũ trên 1.135 nữ (15 - 69 tuổi) thấy nhiễm HSV1 98% nhiễm HSV2 là 35,2% tương đương với Hà Nội lần lượt là 99 - 11,3%. Tại Canada, nhiễm HSV1 là 51,1%, HSV2 là 9,1% (Howard M-2003), tỉ lệ thai phụ nhiễm HSV là 17,3% (Patrick DM -200).
Tốc độ nhiễm HSV tăng rất nhanh trên toàn cầu: Anh tăng 6 lần (1972 - 1994), Mỹ tăng 9,43 lần (1970 - 1994); tốc độ tăng trong giai đoạn sau có giảm hơn trước, song vẫn còn nhanh: Pháp nhiễm HSV2 tăng gấp đôi (2000 - 2010).Việt Nam, ước nhiễm HSV (cả nam và nữ) tăng 30% (1985 - 2010).
Nhiễm herpes sinh dục sau 2 - 7 ngày thường có biểu hiện đau và ngứa. Vài giờ đến vài ngày sau giai đoạn đầu này thì vết loét xuất hiện. Đầu tiên chỉ là một chỗ sưng đỏ nhỏ, mềm, đau, rồi trở nên mọng nước trong vòng một vài ngày; sau đó chúng vỡ miệng, trở thành vết loét, gây rỉ dịch hoặc chảy máu. Ở nữ, vết loét có thể ở vùng âm đạo, cơ quan sinh dục ngoài, mông, hậu môn, hoặc bên trong cổ tử cung. Ở nam, vết loét có thể ở dương vật, bìu, mông, hậu môn, đùi, niệu. Vết gây ra đau đớn rất nhiều khi đi tiểu; gây cơn đau đớn và nhiều cảm giác khó chịu khác ở vùng sinh dục.Trong giai đoạn bột phát, có thể có các triệu chứng nhiễm virút thông thường giống bệnh cúm, gồm sốt, nhức đầu và nổi hạch bẹn. Các dấu hiệu, triệu chứng trên có thể tái phát không thường xuyên, có thể qua hàng năm hay hàng tháng làm cho chất lượng cuộc sống người bệnh bị giảm sút nghiêm trọng. Khoảng 30 - 40% số thai phụ nhiễm HSV có nguy cơ truyền bệnh cho con (qua cuống rốn hay lúc sinh), tập trung vào các tháng nửa sau thai kỳ gây viêm não, tổn thương não, loét giác mạc, mờ mắt hay tử vong cho trẻ.
Theo đó, việc điều trị nhiễm HSV rất cần thiết, đặc biệt càng cần thiết ở phụ nữ mang thai.
Các thuốc kháng HSV thường dùng
Bao gồm: acyclovir, famcyclovir, valacylovir.
Acyclovir:
Về dược tính: chất tương tự nucleosid (acycloguanosin), có tác dụng chọn lọc trên tế bào nhiễm HSV. Khi vào cơ thể, chuyển thành acyclovir monophosphat nhờ enzyme thimidinkinase của virút; sau đó chuyển thành aciclovir triphosphat nhờ các emzyme khác của tế bào. Acyclovir triphosphat ức chế tổng hợp DNA, ngăn cản sự nhân lên của virút mà không ảnh hưởng gì đến chuyển hóa của tế bào bình thường.
Acyclovirc tác dụng mạnh nhất với HSV1, kém hơn với HSV2, đặc biệt có tác dụng tốt trong viêm não do HSV1 (làm giảm tử vong từ 70% xuống 20%, giảm tỉ lệ các biến chứng nghiêm trọng trên những người được chữa khỏi), cũng có tác dụng tốt trên thể viêm mãng não nhẹ hơn do HSV2.
Trong nhiễm HSV, acyclovir được dùng điều trị khởi dầu và dự phòng tái phát HSV2 đường sinh dục; điều trị khởi đầu và dự phòng tái nhiễm HSV1 và HSV2 ở da niêm mạc, viêm não do HSV1, viêm màng não nhẹ do HSV2.
Về cách dùng: nguyên tắc: phải dùng sớm ngay khi có triệu chứng, dùng liều cao vì thuốc phân bổ rộng trong các dịch (âm đạo, nước mắt, thủy dịch, tinh dịch, dịch não tủy) và trong các tổ chức (não, thận, phổi, ruột, gan, lách, cơ, tử cung, niêm mạc), sinh khả dụng đường uống trung bình 20% (15 - 30%). Phải dùng nhiều lần trong ngày vì chu kỳ bán thải ngắn (người lớn khoảng 3 giờ, ở trẻ em 2 - 3 giờ, ở trẻ sơ sinh 4 giờ). Phải dùng kéo dài đúng theo liệu trình (có thể dùng lặp lại khi bệnh tái phát hay dùng dự phòng hàng ngày ở liều thấp hơn, một vài trường hợp có khi còn dùng hầu như suốt đời theo từng định kỳ vì thuốc chỉ ổn định song không chữa khỏi hẳn bệnh). Theo đó, tùy theo tình trạng bệnh mà chọn cách, dạng, liều dùng thích hợp.
Dạng thuốc uống: trong đợt lâm sàng nhiễm herpes sinh dục đầu tiên: dùng 400mg x 3 lần/ ngày x 7 - 10 ngày. Sau đó có thể dùng trong từng đợt tái phát (400mg x 3 lần/ ngày x 5 ngày) hoặc dùng theo kiểu điều trị “khống chế tái phát” (dùng hàng ngày, 400mg x 2 lần /ngày). Dùng kiểu “khống chế tái phát” sẽ hạn chế tần suất tái phát đến 70%. Trong lựa chọn, ngoài việc tính lợi ích điều trị, cần lưu ý đến chi phí vì thuốc khá đắt.
Dạng thuốc tiêm truyền tĩnh mạch: thường chỉ dùng trong trường hợp nặng như nhiễm HSV tiên phát ở miệng hay sinh dục, nhiễm HSV ở trẻ sơ sinh, viêm giác mạc nặng do HSV. Thí dụ trong viêm não do HSV1 dùng 10mg/kg và cứ 8 giờ dùng một lần trong 10 - 14 ngày.
Dạng thuốc dùng tại chỗ: cần dùng kết hợp với thuốc toàn thân (uống hay tiêm tùy trường hợp). Với thuốc mỡ dùng ngay từ khi có triệu chứng, bôi lên nơi tổn thương 5 - 6 lần/ngày trong 5 - 7 ngày. Với thuốc mắt mỗi ngày tra 5 lần và tiếp tục tra ít nhất là 3 ngày sau khi đã dùng liều điều trị đầu.
Về tính an toàn: Acyclovir cơ bản có tính an toán khá cao. Dùng uống ngắn hạn hay dài hạn (1 năm) có thể gặp nuồn nôn, nôn, tiêu chảy, đau bụng, ban da, nhức đầu nhưng nhẹ; uống hàng ngày, kéo dài (6 năm) không thấy bị tai biến cấp hay mạn gì nghiêm trọng. Riêng trong truyền tĩnh mạch: thường gặp nhất là viêm tĩnh mạch ở vị trí tiêm. Vì thuốc thải trừ qua thận nếu nồng độ cao sẽ gây kết tủa ở ống thận dẫn tới suy thận cấp nên liều dùng phải căn cứ theo hệ số thanh thải creatinin, tiêm truyền tĩnh mạch chậm (với thời gian truyền trên 1 giờ ), tránh truyền nhanh hay truyền ngay một lượng lớn, khi dùng phải uống kèm đủ nước. Ít gặp hơn là các phản ứng thần kinh - tâm thần (ngủ lịm, run, nhầm lẫn, ảo giác, cơn động kinh), tăng nhất thời ure, creatinin, enzyme gan trong máu. Nguy cơ suy thận tăng lên nếu dùng chung với các thuốc gây độc cho thận.
Valacyclovir:
Tiền chất của acyclovir, sản sinh ra acyclovir trong huyết thanh cao gấp 5 lần acyclovir. Vào cơ thể do phải chuyển hóa sang acyclovir mới có hiệu lực nên chậm hơn nhưng lại bền hơn. Liều dùng và số lần dùng trong ngày khác với acyclovir.
Famciclovir:
Vào cơ thể sẽ chuyển thành penciclovir có tác dụng chống HSV mạnh hơn, kéo dài hơn acyclovir.
Nhờ có tác dụng mạnh và kéo dài, trong đường uống, người ta thường thích dùng famciclovir, valacyclovir hơn.
Ngoài 3 thuốc chính trên, người ta còn dùng một số thuốc khác như dùng loại mỡ chứa 3% denotivir trong tái phát herpes sinh dục, dùng moroxydin khi nhiễm HSV ở mắt.
Tính an toàn của thuốc kháng HSV với người mang thai
Nghiên cứu bằng cách tích lũy các số liệu dị tật trong những người mang thai phơi nhiễm thuốc trong danh bạ đăng ký thai (thường do nhà sản xuất tiến hành) hay trong những người mang thai phơi nhiễm thuốc trong quần thể chung, sau đó so sánh với tỉ lệ nền dị tật trong dân số.
Số liệu từ Danh bạ đăng ký thai acyclovir (từ 1984 - 1998, do hãng Glaxo welcom thực hiện): có 1.234 trường hợp người mang thai phơi nhiễm acyclovir trong 24 quốc gia, trong đó khảo sát 756 trường hợp phơi nhiễm acyclovir trong 3 tháng đầu thai kỳ, thấy: nguy cơ trẻ sinh ra bị khuyết tật là 3,2%. Tỉ lệ này tương đương với tỉ lệ khuyết tật nền trong dân số.
Số liệu từ những người mang thai phơi nhiễm trong quần thể chung (từ 1996 - 2008, do Đan Mạch thực hiện): trong số 837.795 trẻ em được thống kê có 1804 trẻ sinh ra từ bà mẹ bị phơi nhiễm acyclovir, valacyclovir, famciclovir trong 3 tháng đầu thai kỳ. Tỉ lệ dị tật ở nhóm trẻ này không có sự khác biệt so với tỉ lệ dị tật ở nhóm trẻ sinh ra từ những bà mẹ mang thai không bị phơi nhiễm kháng sinh cũng không khác với tỉ lệ dị tật nền trong dân số. Kết quả tương tự cũng thấy ở trẻ sinh ra từ những bà mẹ bị phơi nhiễm các thuốc này trong 3 tháng giữa và cuối thai kỳ… Với dạng thuốc dùng ngoài: tỉ lệ dị tật ở nhóm trẻ sinh ra từ bà mẹ mang thai bị phơi nhiễm các kháng sinh trong 3 tháng đầu thai kỳ lần lượt với acyclovir và valacyclovir là 2,3% (65/2.850 trẻ) và 4,2% (5/118 trẻ), không khác biệt với tỉ lệ dị tật ở nhóm trẻ sinh ra từ các bà mẹ mang thai không bị phơi nhiễm. Những kết quả tương tự cũng được tìm thấy ở trẻ sinh ra từ các bà mẹ mang thai bị phơi nhiễm các kháng sinh này trong 3 tháng giữa và cuối thai kỳ (Paasternat B-2010). Tóm lại, acyclovir, valacyclovir, famicyclovir uống hay dùng ngoài an toàn với thai trong suốt thai kỳ.
Theo nguồn suckhoedoisong.vn