Hiển thị các bài đăng có nhãn Thuốc và sức khỏe. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thuốc và sức khỏe. Hiển thị tất cả bài đăng
Lưu ý khi điều trị lỵ trực khuẩn
Lưu ý khi điều trị lỵ trực khuẩn
Vitamin C có làm “mát” cơ thể?
Vitamin C có làm “mát” cơ thể?
Mùa hè, thời tiết nóng nực và oi ả khiến cho nhiều người bị “nóng” trong người, biểu hiện như khô miệng, khát nước, đau đầu và rõ nhất là các biểu hiện ngoài da như rôm sảy, mụn nhọt, chốc ngứa... Nhiều người đã tìm đến vitamin C như một dược phẩm “kỳ diệu” làm “mát” cơ thể trong mùa nóng.
Có hơn 13 loại vi chất cần thiết cho cơ thể con người để tồn tại và phát triển, trong đó có vitamin C. Tuy nhiên, trong cuộc sống, cả trẻ em và người trưởng thành nếu thiếu hay dư thừa vi chất đều có thể bị bệnh. Với vitamin C, cũng không phải là trường hợp ngoại lệ.
Tác dụng của vitamin C
Vitamin C là loại vi chất rất cần thiết cho cơ thể, chúng tham gia nhiều chức năng quan trọng trong hoạt động của con người. Các loại chức năng đó được thể hiện qua các quá trình sản sinh năng lượng, tạo miễn dịch, trung hòa hoặc đào thải các chất độc (hoặc song song cả hai), tổng hợp các chất vận chuyển trung gian hệ thần kinh, hấp thu canxi, sắt. Vitamin C cũng đóng vai trò quan trọng bảo vệ thành mạch máu (động mạch và tĩnh mạch). Trong khi đó cơ thể của con người lại không thể tự sản xuất vitamin C như hầu hết các loài động vật khác. Vì vậy, khi thiếu vitamin C sẽ xuất hiện một số bệnh như chảy máu cam, vết thương chậm lành, đặc biệt khi thiếu vitamin C dễ mắc bệnh scorbut (chảy máu nướu răng, có vết bầm tím dưới da thành nốt hay thành mảng, nhất là khi có va chạm nhẹ, nặng). Nếu một trường hợp bị bệnh sốt phát ban (sốt xuất huyết) mà bản thân cơ thể người đó đang bị thiếu vitamin C thì triệu chứng xuất huyết càng nặng hơn, đa dạng hơn. Ngoài ra, cùng với các loại vitamin khác (nhóm B, E...), vitamin C đóng vai trò xúc tác các hệ thống men của cơ thể (hệ thống enzym) thúc đẩy quá trình chuyển hóa các dưỡng chất khác, đặc biệt vai trò chống ôxy hóa, góp phần chống lão hóa, giúp làn da tươi tắn mịn màng hơn. Có vai trò đó là do vitamin C có chức năng giúp sản xuất chất collagen, một protein chính của cơ thể, chiếm tới 45% thành phần cấu tạo da. Vitamin C còn có khả năng tham gia sản xuất một số chất dẫn truyền thần kinh và hormon của cơ thể, giúp hấp thụ và sử dụng các yếu tố dinh dưỡng khác (sắt, canxi...).
Lạm dụng vitamin C có gây hại?
Nhu cầu vitamin C mỗi ngày từ trẻ sơ sinh đến 3 tuổi, cơ thể của chúng cần từ 25 - 30mg, từ 4 - 18 tuổi, nhu cầu cần từ 30 - 40mg, người lớn trung bình 45mg mỗi ngày. Đối với phụ nữ mang thai, nhu cầu vitamin C mỗi ngày là 50mg, khi nuôi con bú là 70mg. Để đảm bảo số lượng vitamin C cho cơ thể hoạt động, hàng ngày cần thiết phải cung cấp đủ lượng vitamin C trong khẩu phần ăn. Nếu khẩu phần ăn vì lý do nào đó không cấp đủ lượng vitamin C thì cần tìm cách bổ sung nhưng không được dùng dư thừa. Nếu thừa vitamin C sẽ làm hấp thu thừa sắt gây hại cho cơ thể, đồng thời làm giảm sự hấp thu đồng, niken, làm cho xương chậm phát triển, dễ biến dạng và hay bị viêm kết mạc. Với phụ nữ đang mang thai, nếu thiếu hụt vitamin C sẽ có khả năng gây dị tật bẩm sinh cho thai nhi. Sản phẩm chuyển hóa trung gian của vitamin C là acid oxalic, vì vậy, khi dùng liên tục và liều cao có thể gây sỏi tiết niệu (sỏi oxalat calci). Nếu dùng liều cao vitamin C sẽ gây kích thích nhẹ, làm rối loạn giấc ngủ (ngủ ít, chập chờn, giấc ngủ không sâu, hay tỉnh giấc). Ngoài ra, vitamin C có thể gây dị ứng, nhất là loại thuốc tiêm. Thống kê cho thấy, nếu dùng liều cao (1.000mg cho mỗi cá thể, mỗi ngày) và kéo dài nhiều ngày có thể gây rối loạn tiêu hóa (nóng rát, chảy máu dạ dày hoặc tiêu chảy), gây hiện tượng thừa sắt, giảm độ bền của hồng cầu, giảm khả năng diệt khuẩn của bạch cầu. Và nếu người thiếu men G6PD mà dùng vitamin C liều cao, kéo dài có thể bị tán huyết. Ngoài ra, nếu dùng vitamin C thường xuyên, liều cao làm cho cơ thể dễ quen, khi không dùng sẽ cảm thấy mỏi mệt. Nếu dùng quá liều vitamin C sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh đục thủy tinh thể lên đến 20% và ở người lớn tuổi thì tỷ lệ này còn tăng cao hơn nếu lạm dụng hai loại vitamin C và vitamin E. Ở liều lượng 60mg/ngày, vitamin C có tác dụng phòng bệnh ung thư và chống ôxy hóa, nhưng khi dùng tới 500mg/ngày, vitamin C sẽ gây tổn hại về gen và dẫn tới các căn bệnh ung thư, thấp khớp và xơ vữa động mạch..
Nên dùng vitamin C thế nào?
Việc dùng vitamin C cần tuân theo tư vấn và hướng dẫn của bác sĩ. Không nên coi vitamin C như một loại thuốc bổ, dùng không giới hạn (đặc biệt là trẻ em, thai phụ). Cũng như không nên coi vitamin C như một thứ thuốc làm “mát” trong mùa nắng nóng. Mà mỗi gia đình cần cải thiện chất lượng bữa ăn hằng ngày, chú ý đến bữa ăn của bà mẹ đang mang thai, nuôi con bú và trẻ em. Với người bệnh tăng huyết áp không được dùng vitamin C dạng sủi vì loại này có natri clorid sẽ làm tăng vọt huyết áp sau khi uống. Các trường hợp đang bị sỏi tiết niệu hoặc tiền sử mắc bệnh sỏi tiết niệu cũng không nên dùng hoặc nếu phải dùng thì nên dè dặt và phải có ý kiến của bác sĩ. Vitamin C có thể gây dị ứng nên cần hạn chế đến mức tối đa khi dùng dạng tiêm.
Theo nguồn sức khỏe đời sống
Sỏi thận do C sủi
Sỏi thận do C sủi
Chuyện xảy ra cách đây đã mấy năm rồi, bắt đầu từ việc tự nhiên chị Hồng thấy chân răng mình bị chảy máu, nhất là mỗi khi đánh răng, rồi lợi đỏ lên... Chị đem chuyện này kể với một số chị em thân thiết xem có cách nào khắc phục.
- Có thể chị bị thiếu vitamin C rồi. Chị nên bổ sung đợt vitamin C vào. Chị Lan, bạn thân của chị Hồng hiến kế.
- Ừ, chị cũng nghe thấy bảo thiếu vitamin C thì hay bị chảy máu chân răng. Hay mình thử bổ sung một đợt xem sao nhỉ.
- Vâng, chị cứ thử đi, chắc chắc sẽ cải thiện. Hơn nữa mùa hè này uống vitamin C còn đẹp da nữa đấy.
Thấy một mũi tên trúng hai đích, vừa chữa được bệnh, vừa đẹp da thì ai chả muốn, việc dùng thuốc này lại đơn giản với chị, chỉ cần mua loại thuốc sủi về pha vào nước, uống lại ngon nữa nên chị Hồng càng thêm ý chí để thực hiện chiến lược này.
Chị mua về nhà liền 5 tuýp, ngày 1 viên pha vào cốc nước to, uống đều đặn. Uống rồi thành quen nên ngày nào không được cốc C sủi là chị thấy không yên tâm. Sau một thời gian răng lợi chị không còn chảy máu nữa, nhưng chị vẫn tiếp tục uống, vì đằng nào thì hàng ngày chị cũng phải bổ sung nước cho cơ thể nữa.
Cho tới một ngày thi thoảng chị thấy mình hay bị đau bụng, lúc này đau nhẹ rồi thôi nên chị không để ý, nhưng rồi cơn đau bụng ngày một nhiều lên, đau từ lưng đau xuyên ra phía trước, mức độ đau cũng tăng lên. Cơn đau thường xảy ra sau khi chị làm một việc gì đó phải gắng sức một chút. Chị cũng cố gắng chịu đựng. Rồi chị đi tiểu thì thấy nước tiểu của mình đục như nước vo gạo. Lúc này chị thật sự lo lắng không biết mình bị bệnh gì. Tới bệnh viện xét nghiệm, siêu âm thì kết quả xét nghiệm cho biết viên sỏi thận trong cơ thể chị đã to 1,8 cm.
Trong quá trình điều trị, chị mới có dịp chia sẻ cùng bác sĩ. Trong câu chuyện tìm hiểu về nguyên nhân bệnh chị tiết lộ cho bác sĩ biết đã dùng liên tục vitamin C gần 2 năm nay. Bác sĩ cho biết:
- Viên sỏi kia là kết quả của việc dùng vitamin C liên tục, dài ngày. Vitamin C là một thuốc dùng rất tốt, dùng để phòng và điều trị bệnh Scorbut, các bệnh chảy máu do thiếu vitamin C, tăng sức đề kháng của cơ thể khi mắc bệnh nhiễm khuẩn. Xong nếu dùng đúng sẽ có hiệu quả tốt còn nếu dùng liên tục dài ngày, liều cao sẽ có nguy cơ dẫn đến sỏi thận mà chị trường hợp của chị là điển hình.
Biết được nguyên nhân gây sỏi là do chị lạm dụng thuốc nên chị Hồng đã rất thấm thía. Bài học này đến nay chị vẫn còn nhớ như in để chia sẻ với mọi người.
Theo nguồn Sức khỏe đời sống
Cách trị tê chân tay ở bệnh nhân đái tháo đường
Cách trị tê chân tay ở bệnh nhân đái tháo đường
Biến chứng thần kinh khá phổ biến ở các bệnh nhân đái tháo đường, nhất là các bệnh nhân kiểm soát đường máu không tốt. Tính chung thì khoảng 60-70% bệnh nhân đái tháo đường có biến chứng này, chủ yếu là biến chứng thần kinh ngoại biên (bao gồm dây thần kinh vận động ở tay - chân). Đáng chú ý là ngay tại thời điểm được phát hiện đái tháo đường đã có gần 10% số bệnh nhân có biến chứng thần kinh.
Biến chứng thần kinh ngoại biên thường xuất hiện sớm và dễ nhận biết với các biểu hiện như đau cơ, cảm giác tê bì, kiến bò, kim châm; nóng bỏng hay tê lạnh, thậm chí rát bỏng ở đầu ngón tay, ngón chân.
Tê chân tay - biểu hiện của biến chứng thần kinh ở bệnh nhân đái tháo đường
Biến chứng thần kinh ngoại biên: Thường xuất hiện sớm, Tổn thương chủ yếu ở chi trên và chi dưới, bao gồm các triệu chứng như: cảm giác tê bì, kiến bò, kim châm, đau cơ, nóng bỏng hay tê lạnh, thậm chí rát bỏng ở đầu ngón tay, ngón chân. Đau hay tê tự phát vào ban đêm, không có chu kỳ, không khu trú. Đặc biệt là đau cả lúc nghỉ ngơi, nhưng lại giảm đi khi vận động. Đây là dấu hiệu phân biệt với tổn thương các mạch máu ở chi dưới trong bệnh đái tháo đường (viêm động mạch chi dưới).
Khi tổn thương thần kinh ngoại biên nặng do đái tháo đường, bệnh nhân có thể bị teo cơ, liệt nhẹ. Khi đó, cảm giác ở bàn tay bàn chân giảm, mức độ sừng hoá da tăng lên, có thể xuất hiện các ổ loét da giữa các vùng sừng hoá mà người bệnh không biết.
Ngoài ra, còn hai nhóm tổn thương do biến chứng thần kinh ở bệnh nhân đái tháo đường là:
Biến chứng thần kinh vận động: thường ít gặp hơn. Trong biến chứng này, các dây thần kinh bị viêm với các biểu hiện: sụp mi mắt (tổn thương dây thần kinh số 3), lác ngoài (dây thần kinh số 4), liệt mặt (dây thần kinh số 7), mất vận động nhìn ngoài (dây số 6), điếc (dây số 8).
Biến chứng thần kinh thực vật: thường kết hợp với các biến chứng thần kinh ngoại biên, và được coi là rối loạn thần kinh nội tạng. Có thể gặp như: nhịp tim nhanh khi nghỉ, giảm sự tiết mồ hôi, giảm sự co giãn của đồng tử, giảm trương lực cơ hệ tiêu hoá (buồn nôn, nôn hay đầy bụng sau khi ăn,…), giảm co bóp cơ bàng quang (gây ứ đọng nước tiểu), liệt dương ở nam giới.
Nguyên nhân gây biến chứng thần kinh ở các bệnh nhân đái tháo đường
Cơ chế gây tổn thương thần kinh ở các bênh nhân đái tháo đường chưa được biết rõ, có thể do tình trạng đường máu cao kéo dài sẽ gây tổn thương (tắc, hẹp) các mạch máu nhỏ nuôi dây thần kinh. Mặt khác đường máu cao còn sinh ra các sản phẩm chuyển hóa gây độc cho dây thần kinh.
Hậu quả là các dây thần kinh bị thoái hóa, tốc độ dẫn truyền các tín hiệu bị chậm lại, có khi mất hẳn. Hầu hết những tổn thương này có tính chất thoái hóa vĩnh viễn, và khi có trên 50% số sợi trục bị tổn thương thì khả năng phục hồi là không thể.
Ngoài việc không kiểm soát tốt đường máu, có một số yếu tố làm tăng nguy cơ mắc biến chứng thần kinh ở bênh nhân đái tháo đường như: thời gian bị đái tháo đường lâu; tuổi cao (tỷ lệ bị biến chứng thần kinh là 5% ở những bệnh nhân 25-29 tuổi, nhưng tăng cao tới 44,2% ở những người 70-79 tuổi).
Điều trị và ngăn ngừa biến chứng thần kinh ở bệnh nhân đái tháo đường
Nếu đang mắc các bệnh liên quan đến rối loạn chuyển hóa như đái tháo đường thì tê chân tay chính là biến chứng thường gặp và nguy hiểm của bệnh, cần điều trị sớm theo hướng dẫn sau:
Theo dõi và kiểm soát đường máu ở giới hạn cho phép qua chế độ ăn uống cân bằng, khoa học và dùng thuốc kiểm soát đường huyết theo chỉ dẫn của bác sĩ.
Điều trị sớm các biến chứng thần kinh bằng các sản phẩm có tác dụng điều trị viêm đau dây thần kinh và các rối loạn chức năng thần kinh, điều trị tê chân tay, và ngăn ngừa biến chứng thần kinh nặng thêm. Vindermen là dược phẩm có tác dụng điều trị này và nhanh chóng giúp người bệnh hết triệu chứng đau hoặc tê chân tay, ngăn biến chứng nặng thêm và người bệnh nhanh chóng khỏe mạnh, hoạt bát.
Bên cạnh đó, tập luyện thể thao đều đặn, chăm sóc bàn tay, bàn chân hàng ngày (giữ sạch, rửa bằng nước ấm, tránh trầy xước,…) và nên khám sức khỏe định kỳ hàng năm để kiểm soát bệnh và phát hiện các biến chứng sớm nhất.
Theo nguồn sức khỏe đời sống