Hiển thị các bài đăng có nhãn Sức khỏe và đời sống. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sức khỏe và đời sống. Hiển thị tất cả bài đăng
Stress khi mang thai

Stress khi mang thai

Kinh nghiệm dân gian cho rằng tinh thần của người mẹ sẽ quyết định đến tính cách của trẻ. Nếu mẹ buồn, sau này con sẽ có tính cách trầm, hướng nội. Còn y học hiện đại đã chứng minh rằng nếu bà mẹ bị quá stress thì sau khi sinh ra trẻ sẽ có tỉ lệ bị rối loạn giấc ngủ, rối loạn hành vi.
Stress hay căng thẳng do nhiều nguyên nhân như: thất nghiệp, bất hòa trong gia đình, người thân bị bệnh nặng… Phụ nữ mang thai dễ bị stress hơn so với không mang thai, với nhiều biểu hiện khác nhau như buồn phiền, mất ngủ, chán ăn, không muốn giao tiếp… Có rất nhiều phản ứng phụ tiêu cực của stress trong quá trình mang thai.
Stress khi mang thai 1Bị stress trong thời gian “bầu bí” có thể khiến cho đứa trẻ sau này mắc bệnh hen suyễn và dị ứng

Các nhà nghiên cứu phát hiện, áp lực stress khiến cho người mẹ ngủ không sâu và luôn trong tình trạng nửa ngủ nửa thức, thậm chí gặp ác mộng. Do đó, nếu khi gặp phải cần dùng đồ uống không chứa caffein và chất cồn trước khi ngủ sẽ giúp phòng ngừa tình trạng trên.
Các nhà khoa học đã nghiên cứu gần 1,8 triệu trẻ được sinh ra ở Đan Mạch trong thời gian từ năm 1978 - 2008. Họ cố gắng tìm hiểu xem liệu có phải các dị tật tim bẩm sinh là những dị tật hay gặp hơn ở những đứa trẻ được sinh ra trong một nhóm đặc biệt gồm khoảng 45.000 phụ nữ. Những phụ nữ này bị mất đi bố mẹ, anh chị em ruột, con hay bạn đời trong khoảng thời gian thụ thai hoặc mang thai. Các nhà nghiên cứu phát hiện thấy những thai phụ này tăng nhẹ nguy cơ sinh con mang dị tật tim bẩm sinh so với thai phụ khác không bị stress. Vậy tại sao stress ở người mẹ lại gây ra dị tật bẩm sinh cho thai nhi? Các nhà nghiên cứu giải thích rằng thai phụ bị stress dễ làm những việc nguy hiểm tới đứa con ở trong bụng. Ví dụ như họ thay đổi thói quen ăn uống khiến cho chế độ ăn không lành mạnh, kém tốt cho thai nhi. Hơn nữa, stress ở mẹ cũng có thể làm thay đổi ADN của thai nhi. Tuy nghiên cứu phát hiện ra mối liên quan giữa tình trạng stress của thai phụ và nguy cơ mắc dị tật tim ở con, song vẫn chưa chứng minh được đây là mối quan hệ nhân quả.
LỜI KHUYÊN CỦA THẦY THUỐC
Trong giai đoạn thai kỳ, khi cảm thấy mệt mỏi, lại phải chịu đựng nhiều áp lực do công việc giải pháp hữu hiệu cho cả mẹ và thai nhi đó là hãy tìm cho mình một không gian thật yên tĩnh, thoải mái và tâm sự cùng con. Ví dụ như: “Con à, hiện tại mẹ đang rất buồn, rất mệt mỏi về chuyện...”, thông qua đó sẽ giảm stress và cũng giảm ảnh hưởng không tốt tới thai nhi. 
Các bà mẹ trẻ bị stress trong thời gian “bầu bí” có thể khiến cho đứa trẻ sau này mắc bệnh hen suyễn và dị ứng. Kết quả này được các nhà nghiên cứu Mỹ công bố mới đây tại một cuộc hội thảo. Bác sĩ Rosalind Wright ở trường Y khoa Harvard cho rằng, các bà mẹ thường hay bị stress do vấn đề tài chính hoặc các mối quan hệ trong cuộc sống hằng ngày có thể làm tổn thương hệ miễn dịch đang phát triển của trẻ ngay trong giai đoạn thai kỳ.
BS. Wight và các cộng sự nhận thấy các bà mẹ ít bị stress trong thời gian mang thai có thể đưa đến cho con mức IgE (Immunoglobulin - IgE là loại hoóc-môn miễn dịch tổng hợp rất có lợi cho trẻ nhỏ) cao hơn, thậm chí người mẹ cũng ít có nguy cơ bị dị ứng trong thời gian mang thai. Các nhà nghiên cứu đã đo lượng IgE ở ở rốn của 387 đứa trẻ mới sinh ở Boston. BS. Wright khẳng định: “Stress có thể được xem như là một nhân tố ô nhiễm, ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch”.
BS. Andrea Danese, Đại học London, theo dõi 1.000 người ở New Zealand từ lúc sơ sinh cho đến tuổi 32 và nhận thấy rằng: những ai đã trải qua trạng thái stress trong thời thơ ấu, qua những sự rèn luyện khắc nghiệt hay bị lạm dụng tình dục, tính khí của họ khi ở tuổi 20 dễ bị kích động gấp đôi so với những người bình thường khác. Sự kích động này được cho là phản ứng của protein và các tế bào miễn dịch, làm gia tăng nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch và đái tháo đường.
Đã có nhiều nghiên cứu về sự ảnh hưởng của tâm lý bà mẹ đối với thai nhi. Chẳng hạn như nghiên cứu của Vijai  P. Sharma về stress trong thai kỳ ảnh hưởng đến trẻ như thế nào, qua nghiên cứu ông kết luận stress trong suốt thời gian mang thai có thể ảnh hưởng khá lớn đến nồng độ nội tiết của người mẹ dẫn đến giảm dưỡng chất được cung cấp cho thai qua nhau, từ đó ảnh hưởng đáng kể đến các cơ quan trọng yếu của thai nhi như: gan, tim, thận, não và ảnh hưởng đến sự phát triển tinh thần của trẻ về sau.
Theo Ian Spencer, stress có thể gây sảy thai, sinh non hoặc thai chậm phát triển. Hậu quả của stress trên thai kỳ  đã được chứng minh có thể là sảy thai, thai dị tật bẩm sinh. Tăng nguy cơ sinh non. Thai chậm phát triển trong tử cung. Mẹ tăng nhịp tim. Tăng huyết áp trên thai phụ, có nguy cơ dẫn đến tình trạng tiền sàn giật - sản giật. Ngay ở giai đoạn hậu sản, người mẹ dễ bị trầm cảm sau sinh.
Stress thường ảnh hưởng nhiều nhất trong 3 tháng đầu thai kỳ, đây là giai đoạn hình thành và hoàn thiện các cơ quan, tuy nhiên stress cũng có thể ảnh hưởng đến suốt thai kỳ.
Hay những kết quả nghiên cứu khác còn cho thấy mẹ bị stress trong 3 tháng đầu của thai kỳ tăng nguy cơ có nồng độ sắt thấp, dẫn đến chậm phát triển về thể chất và trí tuệ cho thai. Theo một nghiên cứu được trình bày tại hội nghị thường niên của Hội nghiên cứu Nhi khoa Hoa Kỳ tại Boston thì những trẻ sơ sinh có mẹ bị stress trong 3 tháng đầu của thai kỳ tăng nguy cơ có nồng độ sắt thấp, dẫn đến chậm phát triển về thể chất và trí tuệ. Sắt đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển các hệ cơ quan, đặc biệt là não bộ. Các yếu tố nguy cơ dẫn tới nồng độ sắt thấp ở trẻ sơ sinh là do thiếu hụt sắt ở người mẹ, mẹ mắc bệnh đái tháo đường, mẹ hút thuốc lá trong thời kỳ mang thai, sinh non, sinh con nhẹ cân và đa thai.
Các nhà nghiên cứu kết luận rằng phụ nữ có ý định sinh con nên bổ sung sắt 12 tháng trước khi mang thai, đặc biệt là ở nhóm có nguy cơ cao. Nhờ vậy thiếu sắt (có hoặc không có thiếu máu) có thể được phát hiện sớm và điều trị trước khi trở thành mạn tính và nghiêm trọng.
Để cải thiện hiện tượng stress trên, tiến sĩ Siobhan Dolan, một chuyên gia tâm lý học, khuyên: cần ăn uống điều độ đầy đủ chất dinh dưỡng và uống nhiều nước. Ăn uống cũng sẽ cung cấp sẽ cung cấp đủ năng lượng cần  thiết để có thể đối phó với stress, đặc biệt là khi cảm thấy mệt mỏi hoặc quá sức. Nghỉ ngơi đầy đủ và khi cảm thấy mệt mỏi. Chú ý phòng ngủ yên tĩnh, tránh tiếng ồn. Có thể tắm mát trước ngủ, không nên ăn trong vòng 1 giờ trước khi  ngủ. Không hút thuốc, không uống rượu, không dùng thuốc gây nghiện. Tập thể dục thường xuyên, tập thể dục các môn thích ứng với tình trạng sức khỏe, có sự tư vấn của chuyên gia thể dục. Với sự tập luyện cơ thể thường xuyên giúp cho cơ thể khỏe mạnh, làm việc tốt hơn và giảm stress. Hoặc thư giãn bằng cách nghe nhạc, du lịch, xem kịch hài, sẽ làm cho phấn chấn và vui vẻ để vượt qua cơn stress.… Tránh xa những yếu tố gây stress nếu có thể được, cụ thể là tránh những tình huống hoặc những người có khả năng gây stress cho mình. Chia sẻ với người thân, bạn bè, nếu cảm thấy khó nói thì có thể đến với chuyên gia tâm lý, cha nhà thờ. Việc giao tiếp thường xuyên và cởi mở với người khác giúp cảm thấy tự tin hơn để đối phó với các thách thức hàng ngày. Làm giảm khối lượng công việc hằng ngày. Nếu như đang phải làm việc quá nhiều trong một ngày, hãy chia sẻ nhiệm vụ cho những người khác cùng làm. Cần khám thai tại các cơ sở có đầy đủ phương tiện để chăm sóc tiền sản, đảm bảo thai kỳ được tiến triển tốt.

Chìa khóa giúp sống khỏe, trẻ lâu

Chìa khóa giúp sống khỏe, trẻ lâu

Đã bao giờ bạn tự hỏi: Tại sao tôi hay buồn bã, thất vọng? Tại sao tôi hay mệt mỏi và bị “già” hơn các bạn cùng trang lứa? Có thể tất cả những điều đó đều bắt nguồn từ cách sống bi quan của bạn. Dưới đây là một số gợi ý nhỏ có thể giúp bạn sống lạc quan - Chìa khóa để bạn yêu đời, sống khỏe và trẻ lâu.
Không than thở: Khi than thở, bạn sẽ luôn có cảm giác lo lắng và buồn phiền. Cứ tưởng rằng việc than vãn kêu ca chỉ là chuyện nhỏ nhưng thực tế thì nó lại có sức mạnh tàn phá phi thường. Nó có thể mang lại nét mặt “xám xịt”, những nếp nhăn hằn sâu, thái độ buông trôi, cảm giác lạnh nhạt hờ hững. Và nguy hiểm hơn là sự than thở lâu ngày sẽ khiến bạn kiệt sức và sắc đẹp ngày một “xuống dốc”.
Chìa khóa giúp sống khỏe, trẻ lâu 1
Học cách sống vui vẻ, lạc quan để luôn thấy khỏe mạnh, yêu đời và trẻ trung.

Khoan dung nhiều và đòi hỏi ít: Thông thường thì chúng ta luôn có xu hướng quy những lỗi lầm cho người khác chứ ít khi nhận lỗi về mình. Thực tế thì nhận lỗi về mình là một cách xử sự thông minh. Khi bạn có thể tha thứ lỗi lầm của một ai đó thì người khác cũng sẽ làm như thế với bạn. Không có ai là hoàn hảo cả, hãy tưởng tượng mình và mọi người không phải là người hoàn hảo, bạn sẽ thấy cuộc sống thật dễ chịu.
Luôn bận rộn: “Nhàn cư vi bất thiện”, vì vậy hãy lên kế hoạch và sử dụng quỹ thời gian của bạn, đừng quá bận rộn đến mức không có thời gian nghỉ ngơi nhưng cũng đừng để cho mình sống mà không biết ngày hôm nay mình sẽ làm gì.
Không sống nhạt nhẽo: Hãy làm nóng sự giao tiếp, công việc và tình yêu của bạn. Giao tiếp trong nguội lạnh chỉ càng làm cho người khác hờ hững với mình hơn. Điều cực kỳ quan trọng trong cuộc sống và công việc làm ăn, nếu bạn chỉ nghe “đối tác” mà không hề có cảm xúc tích cực, không hề biết chú ý, quan tâm thực sự đến họ thì chắc chắn bạn sẽ không bao giờ nhận được những tình cảm nồng ấm thực sự của người khác và do đó bạn sẽ luôn gặp thất bại.
Mỉm cười nhiều hơn: Mỉm cười là cách tốt nhất để “đòi hỏi” người khác phải cười lại với mình. Cố gắng quên đi mọi lo lắng và mỉm cười trong ít phút sẽ giúp bạn như được thư giãn. Không nên mất nhiều thời gian để suy nghĩ về những việc không hay trong quá khứ. Bạn đừng quên bí quyết thành công chính là “mỉm cười và mỉm cười”. Hãy tạo nên sức mạnh cho chính mình bằng việc lúc nào cũng mang theo “vũ khí” là nụ cười.
Đau đầu - thuốc giảm đau không phải là giải pháp

Đau đầu - thuốc giảm đau không phải là giải pháp

Bạn bị stress vì công việc và ngủ không đủ giấc đêm qua, kết quả là bạn đã bị một cơn đau đầu kinh khủng. Vậy thì bạn sẽ làm gì?
Chẳng có gì khó, chỉ cần một viên Panadol hoặc Tylenol thì xem ra cũng cải thiện được tình hình, cơn nhức đầu biến mất, cuộc sống lại tràn đầy màu sắc.
Ngày hôm sau, khi thức dậy, bỗng dưng bạn lại cảm thấy đau đầu, lần này cơn đau không dữ dội như hôm qua nhưng cứ tái đi tái lại. Cũng lại giở trò cũ, thuốc đã mua sẵn ngày hôm qua rồi, tội gì không uống để ngăn chặn cơn đau trước khi chúng càng trở nên “tàn nhẫn”.
Thế nhưng sự đời đâu có dễ ăn như ta tưởng. Khi bạn làm điều đó có nghĩa là bạn đã “hãm tài” những “receptor đau” vốn có nhiệm vụ “đưa tin” giữa các tế bào não. Điều này cũng có nghĩa là cơn đau đầu của bạn vẫn “ăn dầm nằm dề” ở đó, nhưng vì não đã bị “cắt liên lạc” cho nên làm cho bạn không còn cảm thấy đau. Cũng có nghĩa là thay vì tìm ra nguyên nhân gây đau đầu để mà trị, bạn chỉ trị triệu chứng đau đầu.
 Nhiều loại thuốc giảm đau không tốt cho cơ thể
Thêm vào đó, Tylenol hoặc Panadol (tên biệt dược của paracetamol) không hiền như ta tưởng. Một thống kê từ Úc cho thấy khi sử dụng paracetamol chỉ có 16% người dùng chịu đọc kỹ nhãn thuốc; khoảng 44% đã đọc nhãn thuốc và biết rằng mình đang sử dụng quá liều được đề nghị nhưng vẫn chấp nhận dùng để “ăn thua đủ” với cơn đau.
Nếu bạn bị dính đau đầu hơn 2 lần trong một ngày thì đúng là bạn đã có vấn đề. Sử dụng thuốc giảm đau bừa bãi chỉ càng có cơ hội bị dính theo hiệu ứng hồi ngược (rebound) và càng làm cho cơn đau đầu càng không còn lối thoát. Khi bạn sử dụng cùng một loại thuốc giảm đau trong một thời gian dài thì cơ thể bạn sẽ bị nghiện thuốc. Điều gì sẽ xảy ra khi một loại thuốc giảm đau bị “phế võ công”? Bạn sẽ bị cơn đau đầu hành hạ bạn một cách dã man hơn và càng làm cho bạn muốn uống thêm nhiều thuốc hơn và càng nhiều thuốc hơn nữa tạo thành cái vòng luẩn quẩn.
Không phải nói ra những điều này nhằm thuyết phục bạn đừng có rớ vào mấy loại thuốc giảm đau. Không thể phủ nhận công lao của chúng, tuy nhiên đừng để chúng biến thành một phần không thể thiếu được trong cuộc sống thường ngày của bạn. Có một điều nếu nói ra tưởng là dư thừa: luôn luôn đọc kỹ hướng dẫn trước khi dùng. Nhiều loại thuốc tuy rằng dùng khác mục đích nhưng lại có chung thành phần hoạt chất. Vì vậy, nếu dùng những loại thuốc này cùng một lúc sẽ càng làm tăng hàm lượng các thành phần hoạt chất giống nhau có mặt ở 2 thuốc khác nhau và sẽ càng làm tăng thêm độc tính. Một ví dụ rõ nhất là Tylenol trị đau đầu có chứa paracetamol, một số loại thuốc trị cảm cúm khác cũng có chứa paracetamol, nếu sử dụng 2 loại thuốc này cùng một lúc, sự quá liều paracetamol rất có thể xảy ra. Nếu chế độ dinh dưỡng không hợp lý, ăn uống thất thường, mượn rượu giải sầu... thì càng làm tăng khả năng công phá lá gan mong manh của bạn. Điều “khó chịu” nhất là khi lá gan bị công phá ở giai đoạn sớm, những triệu chứng gặp phải rất giống cúm và làm cho bạn càng sử dụng thêm thuốc trị cúm và càng làm cho lá gan “oải chè đậu” hơn.
Nếu bạn bị hiệu ứng đau đầu hồi ngược khi sử dụng các loại thuốc giảm đau, điều duy nhất bạn có thể làm để xoay chuyển tình thế là... ngưng ngay tất cả các loại thuốc giảm đau và thay thế bằng những liệu pháp tự nhiên khác. Những liệu pháp tự nhiên này đã được dùng từ lâu đời và đôi lúc còn nhanh hơn và hiệu quả hơn so với các loại thuốc giảm đau. Những liệu pháp này bao gồm thủy liệu pháp (hydrotherapy), hương liệu pháp (aromatherapy), châm cứu, massage, yoga... Trị những cơn đau đầu đúng phương pháp sẽ làm bạn tiết kiệm tiền bạc chi tiêu vào những loại thuốc giảm đau vốn hay gây... “nhức đầu” cho túi tiền của bạn.
DS. NGUYỄN BÁ HUY CƯỜNG
(Khoa Dược - ĐH Murdoch - Úc)
Vitamin C có làm “mát” cơ thể?

Vitamin C có làm “mát” cơ thể?

Vitamin C có làm “mát” cơ thể?

Mùa hè, thời tiết nóng nực và oi ả khiến cho nhiều người bị “nóng” trong người, biểu hiện như khô miệng, khát nước, đau đầu và rõ nhất là các biểu hiện ngoài da như rôm sảy, mụn nhọt, chốc ngứa... Nhiều người đã tìm đến vitamin C như một dược phẩm “kỳ diệu” làm “mát” cơ thể trong mùa nóng.
Có hơn 13 loại vi chất cần thiết cho cơ thể con người để tồn tại và phát triển, trong đó có vitamin C. Tuy nhiên, trong cuộc sống, cả trẻ em và người trưởng thành nếu thiếu hay dư thừa vi chất đều có thể bị bệnh. Với vitamin C, cũng không phải là trường hợp ngoại lệ.
Vitamin C có làm “mát” cơ thể? 1Nên bổ sung vitamin C dưới dạng thực phẩm.
Tác dụng của vitamin C
Vitamin C là loại vi chất rất cần thiết cho cơ thể, chúng tham gia nhiều chức năng quan trọng trong hoạt động của con người. Các loại chức năng đó được thể hiện qua các quá trình sản sinh năng lượng, tạo miễn dịch, trung hòa hoặc đào thải các chất độc (hoặc song song cả hai), tổng hợp các chất vận chuyển trung gian hệ thần kinh, hấp thu canxi, sắt. Vitamin C cũng đóng vai trò quan trọng bảo vệ thành mạch máu (động mạch và tĩnh mạch). Trong khi đó cơ thể của con người lại không thể tự sản xuất vitamin C như hầu hết các loài động vật khác. Vì vậy, khi thiếu vitamin C sẽ xuất hiện một số bệnh như chảy máu cam, vết thương chậm lành, đặc biệt khi thiếu vitamin C dễ mắc bệnh scorbut (chảy máu nướu răng, có vết bầm tím dưới da thành nốt hay thành mảng, nhất là khi có va chạm nhẹ, nặng). Nếu một trường hợp bị bệnh sốt phát ban (sốt xuất huyết) mà bản thân cơ thể người đó đang bị thiếu vitamin C thì triệu chứng xuất huyết càng nặng hơn, đa dạng hơn. Ngoài ra, cùng với các loại vitamin khác (nhóm B, E...), vitamin C đóng vai trò xúc tác các hệ thống men của cơ thể (hệ thống enzym) thúc đẩy quá trình chuyển hóa các dưỡng chất khác, đặc biệt vai trò chống ôxy hóa, góp phần chống lão hóa, giúp làn da tươi tắn mịn màng hơn. Có vai trò đó là do vitamin C có chức năng giúp sản xuất chất collagen, một protein chính của cơ thể, chiếm tới 45% thành phần cấu tạo da. Vitamin C còn có khả năng tham gia sản xuất một số chất dẫn truyền thần kinh và hormon của cơ thể, giúp hấp thụ và sử dụng các yếu tố dinh dưỡng khác (sắt, canxi...).
Lạm dụng vitamin C có gây hại?
Nhu cầu vitamin C mỗi ngày từ trẻ sơ sinh đến 3 tuổi, cơ thể của chúng cần từ 25 - 30mg, từ 4 - 18 tuổi, nhu cầu cần từ 30 - 40mg, người lớn trung bình 45mg mỗi ngày. Đối với phụ nữ mang thai, nhu cầu vitamin C mỗi ngày là 50mg, khi nuôi con bú là 70mg. Để đảm bảo số lượng vitamin C cho cơ thể hoạt động, hàng ngày cần thiết phải cung cấp đủ lượng vitamin C trong khẩu phần ăn. Nếu khẩu phần ăn vì lý do nào đó không cấp đủ lượng vitamin C thì cần tìm cách bổ sung nhưng không được dùng dư thừa. Nếu thừa vitamin C sẽ làm hấp thu thừa sắt gây hại cho cơ thể, đồng thời làm giảm sự hấp thu đồng, niken, làm cho xương chậm phát triển, dễ biến dạng và hay bị viêm kết mạc. Với phụ nữ đang mang thai, nếu thiếu hụt vitamin C sẽ có khả năng gây dị tật bẩm sinh cho thai nhi. Sản phẩm chuyển hóa trung gian của vitamin C là acid oxalic, vì vậy, khi dùng liên tục và liều cao có thể gây sỏi tiết niệu (sỏi oxalat calci). Nếu dùng liều cao vitamin C sẽ gây kích thích nhẹ, làm rối loạn giấc ngủ (ngủ ít, chập chờn, giấc ngủ không sâu, hay tỉnh giấc). Ngoài ra, vitamin C có thể gây dị ứng, nhất là loại thuốc tiêm. Thống kê cho thấy, nếu dùng liều cao (1.000mg cho mỗi cá thể, mỗi ngày) và kéo dài nhiều ngày có thể gây rối loạn tiêu hóa (nóng rát, chảy máu dạ dày hoặc tiêu chảy), gây hiện tượng thừa sắt, giảm độ bền của hồng cầu, giảm khả năng diệt khuẩn của bạch cầu. Và nếu người thiếu men G6PD mà dùng vitamin C liều cao, kéo dài có thể bị tán huyết. Ngoài ra, nếu dùng vitamin C thường xuyên, liều cao làm cho cơ thể dễ quen, khi không dùng sẽ cảm thấy mỏi mệt. Nếu dùng quá liều vitamin C sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh đục thủy tinh thể lên đến 20% và ở người lớn tuổi thì tỷ lệ này còn tăng cao hơn nếu lạm dụng hai loại vitamin C và vitamin E. Ở liều lượng 60mg/ngày, vitamin C có tác dụng phòng bệnh ung thư và chống ôxy hóa, nhưng khi dùng tới 500mg/ngày, vitamin C sẽ gây tổn hại về gen và dẫn tới các căn bệnh ung thư, thấp khớp và xơ vữa động mạch..
Nên dùng vitamin C thế nào?
Việc dùng vitamin C cần tuân theo tư vấn và hướng dẫn của bác sĩ. Không nên coi vitamin C như một loại thuốc bổ, dùng không giới hạn (đặc biệt là trẻ em, thai phụ). Cũng như không nên coi vitamin C như một thứ thuốc làm “mát” trong mùa nắng nóng. Mà mỗi gia đình cần cải thiện chất lượng bữa ăn hằng ngày, chú ý đến bữa ăn của bà mẹ đang mang thai, nuôi con bú và trẻ em. Với người bệnh tăng huyết áp không được dùng vitamin C dạng sủi vì loại này có natri clorid sẽ làm tăng vọt huyết áp sau khi uống. Các trường hợp đang bị sỏi tiết niệu hoặc tiền sử mắc bệnh sỏi tiết niệu cũng không nên dùng hoặc nếu phải dùng thì nên dè dặt và phải có ý kiến của bác sĩ. Vitamin C có thể gây dị ứng nên cần hạn chế đến mức tối đa khi dùng dạng tiêm.
Theo nguồn sức khỏe đời sống